Tất cả chuyên mục
ĐBP - Trước chuyển động mạnh mẽ của kinh tế thị trường, những nghề, làng nghề truyền thống đang phải đối mặt với không ít thách thức. Ở Điện Biên, nơi hội tụ sắc màu văn hóa của 19 dân tộc, mỗi nghề truyền thống không chỉ là sinh kế mà còn bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc. Thế nhưng, hành trình giữ nghề đang đứng trước nhiều thử thách, đòi hỏi những cách làm mới, linh hoạt và bền bỉ hơn.
Hiện nay, toàn tỉnh có 51 nghề truyền thống, làng nghề và làng nghề truyền thống, trong đó có 47 nghề thủ công truyền thống hoạt động trên nhiều lĩnh vực như dệt thổ cẩm, mây tre đan, chế tác nhạc cụ, sản xuất thủ công mỹ nghệ… Tuy nhiên, nhiều nghề vẫn đang loay hoay tìm chỗ đứng giữa thị trường, khi sản xuất nhỏ lẻ, công nghệ lạc hậu, sức cạnh tranh thấp và đầu ra bấp bênh trong dòng chảy kinh tế thị trường?
Nghề, làng nghề “gồng mình” tồn tại
Phần lớn các làng nghề ở Điện Biên hoạt động với quy mô nhỏ lẻ, mang tính hộ gia đình, trang thiết bị lạc hậu, chất lượng sản phẩm chưa cao, mẫu mã chưa đa dạng, phong phú. Từng công đoạn chế tác thủ công vẫn giữ nguyên theo phương thức truyền thống, nhưng lại thiếu sự hỗ trợ về công nghệ, thiết kế.

Thị trường tiêu thụ sản phẩm làng nghề chủ yếu trong tỉnh, trong nước, tính cạnh tranh chưa cao và khó gắn kết thu hút khách du lịch đến tham quan, trải nghiệm dẫn đến nhiều nghề truyền thống, làng nghề chưa mạnh dạn đầu tư sản xuất, mở rộng quy mô; chưa có chính sách khuyến khích hỗ trợ nghệ nhân, thợ giỏi... Mẫu mã chưa phong phú, chất lượng chưa đồng đều, sức cạnh tranh thấp khiến nhiều sản phẩm khó đứng vững trước hàng hóa công nghiệp.
Làng nghề bánh khẩu xén, bánh chí chọp tại phường Mường Lay có 71 hộ tham gia và 166 lao động. Làng nghề đã tạo thu nhập ổn định khoảng 5,5 – 6 triệu đồng/người/tháng. Tuy nhiên để phát triển bền vững và mở rộng quy mô làng nghề vẫn là bài toán không dễ.
Chị Lò Thị Chúc Chi, Giám đốc Hợp tác xã Hoa Ban Trắng chia sẻ: Dù sản phẩm bánh khẩu xén, bánh chí chọp đã có chỗ đứng nhất định trên thị trường, được công nhận OCOP 3 sao, song để duy trì sản xuất ổn định, các hộ làm nghề vẫn phải “liệu cơm gắp mắm”. Nguyên liệu phụ thuộc nhiều vào mùa vụ, giá cả biến động; trong khi chi phí nhân công, vận chuyển ngày càng tăng khiến lợi nhuận không cao.

Câu chuyện của làng nghề bánh khẩu xén, bánh chí chọp cũng là bức tranh chung của nhiều nghề, làng nghề trên địa bàn tỉnh. Để giữ được nhịp sản xuất, nhiều hộ gia đình phải linh hoạt chuyển đổi giữa làm nghề và làm nông, tận dụng thời gian nông nhàn để duy trì nghề truyền thống. Không ít người vừa là thợ thủ công, vừa làm nông nghiệp, “lấy ngắn nuôi dài” để giữ nghề.
Những hộ làm nghề dệt thổ cẩm bản Pa Xa Lào, xã Thanh Yên vẫn duy trì nghề truyền thống nhưng phía sau đó là nỗi lo đầu ra. Sản phẩm làm ra chủ yếu bán cho khách quen hoặc khách du lịch, số lượng không lớn. Thu nhập không cao, khó tạo động lực để người trẻ gắn bó lâu dài. Nhiều gia đình động viên con cháu học nghề, không phải để làm giàu, mà để “còn người biết làm”, giữ được nét văn hóa, nghề truyền thống của dân tộc.
Tương tự, nghề làm giày thêu của người Hoa ở bản Thèn Pả, xã Na Sang đang đứng trước những áp lực không nhỏ. Dù có tới 73 hộ với 120 lao động tham gia, nhưng sản phẩm chủ yếu phục vụ trong cộng đồng, lượng tiêu thụ ra thị trường hạn chế. Một số hộ đã thử bán hàng qua mạng xã hội, song hiệu quả chưa ổn định, phụ thuộc nhiều vào khách lẻ. Những đôi giày thêu thủ công tỉ mỉ, mất nhiều thời gian, nhưng giá bán khó cạnh tranh với các sản phẩm công nghiệp.
Sự gắn bó với nghề phần nhiều xuất phát từ tình yêu truyền thống, từ ý thức gìn giữ bản sắc, hơn là từ động lực kinh tế. Chính điều này khiến lớp trẻ ít mặn mà tiếp nối nghề truyền thống, khi họ có nhiều lựa chọn nghề nghiệp khác. Việc thiếu vốn đầu tư, thiếu mặt bằng sản xuất, thiếu liên kết chuỗi cũng là những “nút thắt” khiến nghề, làng nghề khó phát triển. Dù đã có nhiều chương trình xúc tiến thương mại, quảng bá sản phẩm, nhưng hiệu quả vẫn chưa như kỳ vọng. Sản phẩm làng nghề vẫn loay hoay tìm chỗ đứng giữa một thị trường ngày càng cạnh tranh khốc liệt.
Giữa những chênh vênh ấy, câu chuyện giữ nghề không đơn thuần là bảo tồn, mà đã trở thành bài toán cân bằng giữa giá trị truyền thống và yêu cầu của thị trường hiện đại.
Tìm lối đi cho giá trị truyền thống
Nhận diện rõ những khó khăn, trong giai đoạn 2021 - 2025, tỉnh đã ban hành 8 quyết định và 2 kế hoạch nhằm cụ thể hóa chính sách bảo tồn và phát triển nghề truyền thống. Đây là hành lang pháp lý hỗ trợ các nghề, làng nghề phát triển.

Đến nay, trong tổng số 51 nghề truyền thống, làng nghề và làng nghề truyền thống mới có 14 nghề, làng nghề truyền thống được công nhận, trong đó 12 nghề truyền thống, 1 làng nghề và 1 làng nghề truyền thống. Một số nghề truyền thống được duy trì như: dệt thổ cẩm bản Pa Xa Lào, xã Thanh Yên; làm giày thêu của người Xạ Phang, bản Thèn Pả, xã Na Sang; chế tác khèn Mông, thôn Sông Ún, xã Tủa Chùa… Việc được công nhận không chỉ là sự ghi nhận về mặt danh hiệu, mà còn mở ra cơ hội cho làng nghề tiếp cận nguồn hỗ trợ từ Nhà nước.
Theo quy định, các nghề sau khi được công nhận sẽ được hỗ trợ kinh phí trực tiếp với mức hỗ trợ bằng 2 lần mức lương cơ sở đối với nghề truyền thống, 5 lần đối với làng nghề và 7 lần đối với làng nghề truyền thống. Tuy nhiên, việc hỗ trợ còn hạn chế, phụ thuộc vào kinh phí trung ương, vì vậy phần lớn các nghề, làng nghề sau khi được công nhận chưa được thụ hưởng đầy đủ chính sách.

Với những hạn chế trên khiến một số mục tiêu đến năm 2025 về bảo tồn, phát triển nghề, làng nghề truyền thống trên địa bàn tỉnh đề ra vẫn chưa đạt được. Cụ thể, kế hoạch công nhận mới 12 nghề truyền thống, 2 làng nghề và 2 làng nghề truyền thống đến năm 2025, nhưng hiện mới đạt 100% đối với nghề truyền thống, trong khi làng nghề và làng nghề truyền thống mới đạt 50% chỉ tiêu. Điều này cho thấy việc phát triển làng nghề không thể chỉ dựa vào chính sách, mà cần có sự thay đổi từ chính nội lực của từng cộng đồng. Muốn giữ nghề, trước hết phải làm cho nghề “sống được”, tức là tạo giá trị kinh tế đủ hấp dẫn để người dân gắn bó lâu dài.
Hướng đi được nhiều địa phương kỳ vọng là gắn làng nghề với phát triển du lịch. Những sản phẩm thổ cẩm, thủ công mỹ nghệ, ẩm thực truyền thống… hoàn toàn có thể trở thành “đặc sản” thu hút du khách.
Không chỉ bán sản phẩm, làng nghề còn có thể trở thành điểm đến trải nghiệm, nơi du khách được trực tiếp tham gia vào quy trình sản xuất, cảm nhận chiều sâu văn hóa. Việc đổi mới mẫu mã, nâng cao chất lượng sản phẩm cũng là yêu cầu cấp thiết. Những giá trị truyền thống cần được “khoác áo mới” để phù hợp với thị hiếu hiện đại, nhưng vẫn giữ được hồn cốt riêng.

Một yếu tố quan trọng khác là ứng dụng công nghệ, đặc biệt là chuyển đổi số. Việc đưa sản phẩm lên sàn thương mại điện tử, quảng bá qua mạng xã hội không chỉ mở rộng thị trường mà còn giúp làng nghề tiếp cận với khách hàng trẻ. Đồng thời, cần hoàn thiện cơ chế, chính sách hỗ trợ phát triển làng nghề theo hướng bền vững, gắn chặt với nhu cầu thị trường; rà soát, quy hoạch lại không gian sản xuất, tạo điều kiện về đất đai, tín dụng ưu đãi và hạ tầng thiết yếu cho các hộ làm nghề. Đẩy mạnh xúc tiến thương mại, xây dựng thương hiệu, đăng ký nhãn hiệu tập thể cho sản phẩm đặc trưng.
Trong vòng xoáy của thị trường, khi mọi giá trị đều có thể bị thay thế nhanh chóng, những làng nghề truyền thống vẫn như những “mạch nguồn” lặng lẽ chảy, nuôi dưỡng bản sắc văn hóa của vùng đất. Và nếu biết cách khơi thông, kết nối và làm mới, những mạch nguồn ấy sẽ không chỉ tồn tại, mà còn lan tỏa mạnh mẽ, trở thành động lực phát triển bền vững trong thời đại mới.
Ý kiến ()